Chủ Nhật, ngày 29 tháng 5 năm 2016

Truyện ngắn TẤM VẢI LIỆM



2126303823_019e4e37c3


Tấm vải liệm
Truyện ngắn của Trọng Bảo
 
       1- Tôi và Nam cùng nhập ngũ lại là người cùng làng. Nam kém tôi một tuổi. Nếu xét về họ hàng xa bắn "ba tầm súng đại bác" thì Nam còn phải gọi tôi là anh họ. Nhưng vì cùng lớn lên chung ngõ học với nhau từ lớp một cho đến hết cấp ba nên chúng tôi cứ mày tao quen rồi. Khi cùng học phổ thông Nam học môn toán rất giỏi. Nhiều lần nếu không có nó cho nhìn bài thì chỉ còn nước nộp giấy trắng.
        Tôi chỉ bực tính tình Nam nhút nhát hay sợ ma. Ngày xưa ở làng quê không có điện. Đêm đến quanh năm ánh đèn dầu lù mù. Buổi tối ngồi học chúng tôi cũng chỉ có ánh sáng của những cái đèn dầu nhỏ như hạt đỗ. Tối nào học nhóm nếu tôi đi qua cổng không gọi thì Nam không dám đi vì con đường sang xóm bên với các bạn cùng nhóm phải đi qua một bãi tha ma chi chít mả cũ mả mới có những con đom đóm to bằng hạt ngô bay chập chờn xanh lét. Vào bộ đội tôi và thằng Nam vẫn ở cùng tiểu đội. Sau thời gian huấn luyện chiến sĩ mới nhờ năng nổ xông xáo xung phong nhận các nhiệm vụ nên tôi được bổ nhiệm giữ chức vụ tiểu đội phó. Còn thằng Nam đã là quân nhân rồi mà mãi cũng không bớt được cái tính nhút nhát. Những ca gác đêm một mình một vị trí hay đi chuyển công văn khẩn qua cánh rừng hoang vắng là nó rất ngại. Nhiều lần tôi phải đổi phiên gác cho nó tránh bớt những thời điểm đêm khuya thanh vắng hay các vị trí đứng gác gần bãi tha ma hoặc chỗ ngôi miếu cổ cạnh doanh trại.
         Thằng Nam vẫn có ước mơ làm sinh viên đại học. Đi bộ đội nó còn đem theo đến nửa ba lô sách giáo khoa lớp 10 để ôn tập. Nó bảo tôi: "Khi nào ra quân nhất định sẽ thi vào đại học. Em sẽ học ngành nông nghiệp để tìm ra một giống lúa mới có năng xuất thật cao phù hợp với vùng đất phèn chua lầy thụt quê mình". Tôi bảo: "Mày chỉ viển vông chiến tranh đến nơi rồi còn học hành gì nữa! Vứt mẹ mấy cuốn sách đi mà đeo thêm vài cân gạo...". Thằng Nam im lặng không tranh cãi với tôi nữa.
         Tình hình biên giới căng thẳng, chiến tranh có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Mọi sự chuẩn bị cho cuộc chiến đều rất khẩn trương. Để phòng tình huống xấu xảy ra trong chiến đấu mỗi người chúng tôi đều có một mã số riêng thêu trên nắp túi áo bên trái và in vào mảnh giấy nhỏ bằng ba đầu ngón tay ép plastic để trong túi quần, túi áo. Chẳng may ai hy sinh thì chôn theo để sau này bốc mộ xác định danh tính. Một hôm nhận quân trang chiến đấu gồm các loại tăng võng bi đông về tiểu đội trưởng Quân tập trung cả tiểu đội lại cấp phát cho mọi người. Còn một cuộn vải cuối cùng anh bảo:
        - Đây là hai tấm vải dùng để khâm liệm liệt sĩ! Tiểu đội giao cho đồng chí Nam và đồng chí Tuấn mỗi người giữ một cái.
         Nghe vậy cả tiểu đội đều lặng đi. Thằng Nam mặt cắt không còn giọt máu. Tôi cũng hơi thảng thốt nhưng định thần được ngay. Chiến tranh là như vậy. Khi nó chưa nổ ra thì công tác chuẩn bị phải thật chu đáo tỷ mỷ đến mức tối đa để người chiến sĩ khi vào trận có thể chiến đấu tốt nhất.
         Nghe tiểu đội trưởng giao nhiệm vụ thằng Nam chối đây đẩy:
         - Em không... không giữ cái đấy đâu...
         Nhìn mặt nó tái dại đôi mắt hoảng hốt và như sắp phát khóc tôi thấy thương nó quá. Anh em khác trong tiểu đội cũng ngại phải giữ tấm vải liệm nên tìm cách lảng đi. Tôi bảo:
         - Thôi được! Không ai muốn giữ tấm vải này thì để tôi giữ cả cho.
         Tôi nhận vì tôi là tiểu đội phó phải có trách nhiệm về công tác hậu cần của cả tiểu đội. Tôi trải hai tấm vải liệm ra để gấp lại cho gọn. Đó là những tấm vải mỏng gần giống cái vỏ chăn đơn nhưng người ta chỉ may kín hai cạnh để hở hai cạnh. Tấm vải có đính sẵn ba giải dây vải ở giữa và hai đầu. Khi dùng khâm liệm liệt sĩ chỉ cần gấp lại và dùng ba giải dây đó để bó buộc.
         Tôi nhét hai tấm vải liệm vào ba lô đeo về nhà ở.
         Tôi mang cái ba lô về nhà ở thằng Nam vội ôm chăn chiếu chuyển ra một góc nhà sàn nằm. Lâu nay nó vẫn nằm cạnh tôi. Cũng từ ấy không bao giờ nó lục ba lô của tôi tìm lương khô hay lấy kem đánh răng nữa.
 
          2- Chiến tranh nổ ra. Những trận đánh vô cùng ác liệt. Quân Trung Quốc bị tiêu diệt nhiều sinh lực nhưng đơn vị chúng tôi cũng bị nhiều tổn thất. Sau một tuần bị bao vây trong thị trấn Sóc Giang tiểu đoàn chúng tôi gần cạn hết đạn dược lương thực quân số bị tiêu hao. Đến ngày thứ tám chúng tôi được lệnh chuẩn bị rút lui lên núi. Tiểu đội trưởng Quân căn dặn từng người:
          - Nhớ là cố gắng đem hết súng đạn lương thực. Cái gì không cần thiết thì bỏ lại vì khi vượt vòng vây chúng ta sẽ phải vượt qua suối và leo lên một vách núi dựng đứng rất khó đi và nguy hiểm.
           Chúng tôi khẩn trương chuẩn bị. Quần áo ngoài bộ đang mặc trên người thì thêm một bộ để thay đổi chỉ đem theo tăng võng chăn màn vứt bớt hai cái khăn mặt hai đôi tất vừa mới phát cũng vứt một giữ một cho đỡ nặng. Giấy tờ nhật ký sổ sách ghi chép chúng tôi đốt hết để đề phòng khi phá vây bị bắt lọt vào tay bọn địch. Trong túi quần túi áo trong ba lô chỉ còn có những mảnh giấy ghi mã số riêng của từng người.
           Trong đêm tối sau những đợt pháo địch bắn cầm canh từng tốp nhỏ chúng tôi tụt khỏi hang đá trên sườn ngọn núi giữa thị trấn băng qua cánh đồng lên dãy núi trùng điệp nơi mà bọn địch chưa chiếm được. Tôi được giao giao nhiệm vụ chỉ huy bộ phận đi cuối cùng khoá đuôi đơn vị sẵn sàng lập thành một chốt đánh chặn địch truy kích cho đơn vị rút lui an toàn. Tôi bảo anh em trong tiểu đội:
           - Nhớ bám sát nhau! Lúc qua bản Nà Liền phải hết sức nhẹ nhàng tránh gây tiếng động chó sủa bọn địch phát hiện.
            Tôi kéo tay thằng Nam khẽ dặn:
            - Đi sát ngay phía sau tao nhé!
            - Vâng! A... n...h... cứ... yên... tâm.
            - Sao mày có vẻ run lập cập thế?
            - Em thấy hơi sợ...
            - Không việc gì đâu đừng lo.
            Tôi động viên thằng Nam. Suốt tuần vừa rồi nó là chiến sỹ thông tin 2W chưa trực tiếp đánh trận nào.
            Đúng như chỉ huy tiểu đoàn đã tính toán. Đơn vị chúng tôi bí mật vượt qua vòng vây của địch một cách an toàn. Chúng tôi phải mất gần như suốt đêm mới vượt qua được vách núi cheo leo đá tai mèo sắc như dao để lên lũng Mật. Trời sáng rõ. Sương mù tan. Nhìn xuống dưới cánh đồng thấy rõ cả xe tăng và bộ binh địch đang lúc nhúc hành quân. Thỉnh thoảng tiếng pháo lại nổ chói tai vì bắn vào vách đá và gây nên những vọng âm mãi mới tan làm màng nhĩ tai u u rất khó chịu.
           Chúng tôi được lệnh dừng lại nghỉ. Trời rét lắm lại ở núi đá nên càng thêm lạnh buốt. Tôi vội cùng anh em tìm những khe đá hơi bằng phẳng rải tăng võng ra để nằm tranh thủ ngủ để tối đến còn hành quân tiếp hoặc xuống bản tìm kiếm lương thực. Chợt thấy thằng Nam ngồi co ro ở một góc khe đá tôi hỏi:
           - Mày tìm chỗ phẳng nằm mà ngủ một lát đi chứ! Tối nay còn đi lấy gạo đấy.
           - Lúc vượt qua suối vì đỡ anh thương binh trượt ngã cái ba lô của em bị trôi mất rồi.
           - Thế thì nằm vào đây với tao cho khỏi rét mà ngủ.
           Thằng Nam vừa chui vào nằm xuống cạnh tôi đã bật ngay dậy hốt hoảng:
           - Anh... anh... đắp bằng tấm vải liệm à?
           Thì ra nó vừa nằm xuống thì cái dây buộc của tấm vải liệm loằng ngoằng vướng ngay vào cổ. Tôi phì cười:
            - Nó chỉ là một tấm vải thôi việc gì mà sợ! Nằm xuống đi cho ấm!
            - Thôi... thôi... anh ngủ đi... em chịu thôi...
            Tôi cáu vì cái tính nhút nhát của nó:
            - Thế thì mặc xác mày!
            Nói vậy nhưng tôi cũng không ngủ được. Tôi ngồi dậy lột cái võng đang rải ném cho nó. Đoạn tôi chui hẳn vào trong tấm vải liệm nửa rải nửa đắp rồi ngủ thiếp đi vì mệt.
 
            3- Đơn vị chúng tôi cứ ban ngày thì ẩn nấp trong các thung lũng khe đá buổi tối thì chuyển quân sang vị trí khác tránh sự truy kích của bọn địch và tổ chức cho các bộ phận đột nhập xuống bản tìm lương thực. Nhiều hôm chạm địch không lấy được lương thực mà còn tổn thất thêm lực lượng. Quân số của đơn vị cứ vơi dần sau những chặng hành quân gian khổ trên vách đá núi cao đói rét và bị địch đuổi đánh. Một số anh em lực lượng thanh niên xung phong bị thất lạc chạy lên núi cũng nhập luôn vào đội hình đơn vị chúng tôi.
             Sau trận đơn vị bị lực lượng tinh nhuệ của địch tập kích vào đội hình trú quân thì cả hai tấm vải liệm của tiểu đội tôi đều được sử dụng hết. Cũng từ sau hôm ấy thằng Nam mới dám nằm gần tôi. Hai đứa đắp chung một cái võng mỏng manh. Lúc tạnh thì tăng rải làm chiếu võng làm chăn cho ấm. Lúc mưa thì rải võng làm chiếu tăng làm chăn đắp cho khỏi ướt. Mùa Xuân năm ấy sao mà mưa rét đến thế. Cái rét cái đói hành hạ chúng tôi ngày càng khốn khổ. Rồi cả cái võng hai đứa đắp chung ấy cũng không còn. Chúng tôi không nỡ để một cô thanh niên xung phong nằm xuống không có cái gì bó buộc.
            Một buổi sáng còn sương muối còn mù mịt thì tiểu đội trưởng Quân gọi tôi:
            - Tuấn ơi đi ngay!
            - Đi đâu!
            - Đi xuống bản Nà Sác! Bộ phận của thằng Nam tối hôm qua xuống bản lấy lương thực đến giờ vẫn chưa thấy về! Có chuyện không hay rồi.
            Tôi vội vàng xách súng cùng tiểu đội trưởng Quân và một chiến sĩ trinh sát tiểu đoàn tụt xuống dốc núi. Chúng tôi tìm được chiến sĩ Lai nằm gục ở chân dốc. Cái ba lô gạo đeo trên lưng thấm máu. Lai bị thương nhẹ vào đùi nhưng vì đói quá nên lả đi không leo lên núi được. Lai thều thào cho chúng tôi biết hai người vào bản lấy được gạo ngô quay ra thì gặp địch. Nam đã quay chặn địch và bảo Lai rút lui. Nam đã dũng cảm chiến đấu đến viên đạn cuối cùng. Nam bị bọn địch bắn chết bên bờ suối.
             Mãi đến tối chúng tôi mới tiếp cận được chỗ Nam hy sinh. Chúng tôi đưa Nam qua suối rửa mặt cho Nam. Chúng tôi lang thang dùng dây võng buộc chặt Nam vào người cõng nó lên núi.
             Chúng tôi dùng xẻng bộ binh đào một cái rãnh trong khe đá đặt Nam xuống. Không còn một tấm vải liệm nào tôi rút cái khăn mặt duy nhất của mình trong ba lô ra phủ lên mặt cho Nam.
 
            4- Hơn ba mươi năm qua rồi, Nam đã được đưa về quê hương. Hài cốt của nó được gói trong tấm lụa đặt trong hộp gỗ sạ hương phủ quân kỳ và mai táng trong nghĩa trang liệt sĩ của xã. Nhưng câu chuyện về Nam và tấm vải liệm bây giờ tôi mới viết.
 
                                                                                       Hà Nội, tháng 4-2009
 

Thứ Ba, ngày 12 tháng 4 năm 2016

Tản văn Đường làng

  Đường làng
 Tản văn của Trọng Bảo

 
Với mỗi đời người, đường làng là con đường dài nhấ  
 
         
        Làng tôi xưa xanh ngát những lũy tre. Làng tôi xưa hiền hòa đầm ấm. Tôi rất nhớ những con đường làng nho nhỏ trong làng. Hai bên đường là những rặng dâm bụt, rạng cúc tần cắt xén thành hàng rào vuông vắn. Làng tôi ngày trước đất rộng, nhà thưa nên có những vườn cây ăn quả hai bên đường. Những cây ổi quả chín vàng, những cây mận quả tím sẫm. Con đường xuyên qua giữa làng luôn luôn rợp mát bóng cây. Bọn chúng tôi đi học í ới gọi nhau từ trong khắp các con đường làng, các ngõ xóm bé nhỏ ùa ra con đường quốc lộ rộng thênh thang nhưng đầy bụi bặm của các loại xe cơ giới. Khi máy bay Mỹ tăng cường bắn phá miền Bắc chúng tôi chủ yếu đi trong các con đường làng để đến lớp học sơ tán trong rừng lá cọ. Con đường trong làng vừa râm mát vừa tránh máy bay địch. Đường làng cũng là nơi đám trẻ con nô đùa vui chơi trò ú tim, tập trận giả. Mùa gặt, con đường làng rơi đầy những sợi rơm vàng, thơm ngát hương lúa mới. Tôi nhớ như in có một lần bộ đội hành quân qua làng, màu áo xanh của các anh lẫn trong màu cây lá. Đường làng tôi bữa ấy vui như hội. Bát nước chè xanh, củ sắn lùi mà sao ấm áp tình quân dân đến thế.

  Đêm đêm, khi trời không trăng con đường trong làng nhiều cây cối nên tối om om. Những con đom đóm lập lòe bay lên từ ao tù, vườn rậm ra khiến lũ trẻ con sợ ma không dám chạy ra ngoài đường. Vào những đêm trăng sáng, con đường làng như một dải khăn voan mờ ảo, ướt đẫm bụi sương khuya.

          Từ con đường làng nhỏ bé ấy lũ chúng tôi lên đường. Đám trai trẻ làng tôi đã đi đến biết bao nhiêu con đường dài của đất nước. Nhiều người đã có mặt trên tuyến đường Trường Sơn huyền thoại trong những năm kháng chiến chống Mỹ hay bước chân ở bãi biển Trường Sa đầy nắng và cát trắng. Những ai đó từ con đường làng này đã ra đi, trèo đèo lội suối khắp các chiến trường miền Nam, biên cương phía Bắc, có mặt chiến đấu trên đất Campuchia hay nước bạn Lào xa xôi. Họ đã đi từ một con đường làng, một ngõ xóm bình yên đến với những dặm trường gian khổ hy sinh. Vậy mà, có bao người ra đi ấy không bao giờ còn được trở lại đi trên con đường làng mình nữa. Họ đã nằm lại trên các chiến trường ác liệt. Khi đi trên những con đường ở miền Tây Bắc giữa rừng già hay lúc hành quân qua lối mòn trên những sườn núi đá Cao Bằng chênh vênh tôi lại nhớ đến con đường nho nhỏ của làng mình. Con đường ấm những bàn chân của những người nông dân quê mùa thật thà chất phác. Con đường làng ấy đã đi vào ký ức của tôi cùng một thời tuổi trẻ không thể nào quên.

          Làng tôi bây giờ thưa vắng những lũy tre. Con đường làng đang chờ bê tông hóa. Hai bên đường không còn những bờ rào bằng cây xanh. Thay vào đó là những bức tường cao vút đầu người cắm đầy mảnh chai chống trộm. Nhà nào cũng kín cổng cao tường, gà chưa lên chuồng cánh cổng đã đóng. Trong làng cũng không còn những khoảnh ao mặt nước trong xanh cho trẻ con tắm mát mùa hè. Đêm đêm, đi trên con đường làng không còn nghe tiếng cá quẫy dưới ao. Ao hồ trong làng đã bị lấp hết để xây nhà, xây biệt thự. Hai bên đường làng ngày xưa là các vườn cây ăn quả. Bên đường làng hôm nay là hàng cột điện bê tông. Điện về ban đêm làng sáng như ban ngày. Mảnh trăng treo trên rừng xa nhạt nhòa lu mờ trong ánh điện. Vậy mà đi trên đường làng bây giờ luôn có cái cảm giác bất an. Trong ngõ bất ngờ một cái xe máy lao vút ra không kịp tránh. Buổi tối đến, đường làng cũng không còn tiếng trẻ con ríu rít nô đùa như ngày xưa. Đám trẻ con bây giờ vùi đầu vào làm bài tập hay còn mê mải chơi games. Người lớn cũng ngại ra đường sang nhà thăm hỏi nhau cùng uống bát nước chè xanh. Họ sợ ra đường không may gặp phải một thằng nghiện, thằng say gây gổ. Thế đấy, thời gian vẫn còn tươi mới mà làng đã đổi thay nhiều quá. Mỗi lần về làng, mỗi lần một khác. Những ngôi nhà ống cao tầng mọc lên hai bên đường. Những dấu vết của thời thơ ấu nay không còn nữa. Nhưng trong tôi ký ức về con đường làng ngày ấy mãi mãi vẫn vẹn nguyên. 

                                           Vĩnh Phúc, tháng 3-2016
 

Thứ Ba, ngày 16 tháng 2 năm 2016

Ngày mười bảy tháng hai năm ấy


Ngày mười bảy tháng hai năm ấy

Tản văn của Trọng Bảo

chien tranh bien gioi 1979: nhung hinh anh con mai voi thoi gian hinh anh 12 
           Ba mươi bảy năm trước, ngày 17 tháng 2 đúng vào chủ nhật. Hồi ấy, sau cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc, chúng tôi được cấp trên phổ biến lại là Trung Quốc đánh sang Việt Nam chọn vào ngày chủ nhật để giảm dư luận quốc tế phản đối vì ngày cuối tuần ở phương Tây họ thường nghỉ làm việc đi du lịch, giải trí, ít chú ý đến vấn đề thời sự, không có phản ứng kịp thời. Khi sang đến ngày thứ hai của tuần thì việc nổ ra một cuộc chiến tranh là chuyện đã rồi.
 
            Ngày 17 tháng 2 năm 1979, cách nay ba mươi bảy năm tôi có mặt ở khu vực cửa khẩu Bình Mãng (Hà Quảng-Cao Bằng). Trung đội thông tin của chúng tôi trú quân ở bản Cốc Vườn, cách đường biên giới chưa đầy năm trăm mét đường chim bay. Đứng trên sàn trước cửa ngôi nhà sàn của đồng bào dân tộc tôi nhìn rõ vị trí đặt súng 12ly7 của đối phương ở trên một mỏm núi đá ăn sâu vào đất ta. Buổi tối ngày thứ bảy (16-2-1979), chúng tôi còn chuẩn bị dụng cụ để ngày mai chủ nhật được nghỉ toàn đơn vị sẽ đi cuốc đất trồng ngô. Nhưng đến nửa đêm thì có lệnh báo động chiến đấu, các bộ phận nhanh chóng cơ động lực lượng lên trận địa phòng ngự. Lợi dụng đêm tối, bọn địch đã cắt phá mấy chục mét rào biên giới, lùa hàng chục con trâu sang để phát hiện vị trí các bãi mìn của ta. Trung đội thông tin tiểu đoàn 3 chúng tôi được lệnh triển khai tổ chức các hướng đảm bảo liên lạc cho các điểm chốt của bộ binh và trận địa hoả lực. Anh em đi hết, trong ngôi nhà sàn rộng thênh thang chỉ con một mình tôi và một chiến sĩ vô tuyến 2W. Suốt đêm tôi không ngủ được vì bận canh thông máy vô tuyến cho các hướng liên lạc. Gần sáng, tôi vừa chợp mắt thì giật nảy mình bởi những tiếng nổ dữ dội. Tôi bật dậy vớ vội khẩu súng, khoác ba lô lao ra cửa nhà thì nghe tiếng trung đội trưởng Mùi quát gọi:
- Bọn giặc tấn công rồi! Ra trận địa ngay! 

            - Rõ! - Tôi đáp và nhảy ào xuống khỏi sàn nhà.
Người chiến sĩ thông tin 2W cũng đeo máy phóng theo. Chúng tôi vừa chạy vừa nằm ép người bò lết theo lòng mương nước, bờ ruộng trên cánh đồng trống trải để tránh đạn và chạy về vị trí chỉ huy của tiểu đoàn. Bầu trời sáng rực lên bởi những luồng lửa đạn từ phía bên kia biên giới bắn sang. Luồng đạn bay đỏ rực, xé nát cả bầu trời đêm. Tiếng đạn pháo đinh tai, chói óc, tiếng đạn 12ly7 quét ràn rạt trên cánh đồng. Tiếng người nháo nhác gào gọi nhau thảm thiết, tiếng kêu khóc hoảng loạn của những người dân chưa kịp đi sơ tán. Tiếng chó sủa, gà kêu, bò rống ầm ĩ tan tác, vỡ đàn. Tiếng tre nứa nổ lốp bốp từ những ngôi nhà trúng đạn đang bốc cháy rần rật. Mọi thứ âm thanh hỗn độn ấy hoà vào nhau trong khói lửa, cát bụi mù mịt. Đó là ngày đầu tiên của cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc mà tôi đã được chứng kiến và tham dự. Cuộc chiến tranh ấy đến hôm nay đã ba mươi bảy năm rồi mà âm thanh và sự khốc liệt vẫn in hằn trong tâm trí. Một cuộc chiến tranh không thể nào quên đối với bao nhiêu người lính đã trải qua ở nơi biên cương ải bắc ngày ấy. Một cuộc chiến xin đừng lãng quên...
 
            Ngày đầu tiên của cuộc chiến tranh vô cùng ác liệt trên các hướng. Bọn địch tấn công như vũ bão. Xe tăng, bộ binh của chúng lúc nhúc như dòi bọ trên những cánh đồng, trên những sườn đồi nơi tuyến đầu biên giới nước ta. Chúng chọc thủng các tuyến phòng ngự của quân ta phía Thông Nông, Trà Lĩnh. Xe tăng nhãn hiệu “bát nhất” của địch tiến rất nhanh về hướng thị xã Cao Bằng. Khu vực trung đoàn chúng tôi phòng ngự địch cũng vượt qua được phòng tuyến của tiểu đoàn 2 ở Pác Bó tiến thẳng xuống ngã ba Đôn Chương, đánh ngược lên thì trấn Sóc Giang. Vậy là tiểu đoàn 3 chúng tôi nằm giữa vòng vây bốn bề trung điệp của quân giặc. Đạn địch từ phía biên giới bắn xuống, pháo địch từ phía sau nã lên và hai bên sườn là bộ binh và các đơn vị đặc nhiệm, thám báo Trung Quốc ép sát tấn công bất kể ngày đêm. Tuy nhiên, hướng phòng ngự chính diện của tiểu đoàn 3 chúng tôi bọn địch từ bên kia biên giới không thể tràn sang để tiến sâu xuống thị trấn Sóc Giang. Bọn chúng bị chặn đứng ở khu vực chốt cây đa của đại đội 11. Hàng trăm tên địch bị tiêu diệt, hàng chục chiếc xe tăng cuả bọn chúng bị bắn cháy, Trận địa của các đơn vị lở lói tan hoang, đất đá, hầm hào bị tróc hết sau những đợt nã pháo và tấn công dữ dội của quân địch. Vậy mà sau hàng chục đợt xung phong của bọn xâm lược trong ngày đầu tiên của cuộc chiến tranh đại đội 11 vẫn bảo vệ được chốt cây đa thứ nhất và chốt cây đa thứ hai. Song tình hình của tiểu đoàn 3 chúng tôi cũng vô cùng khó khăn, nguy hiểm trước sức ép tiến công của một lực lượng bộ binh, cơ giới đông đảo của quân xâm lược và trước sự chi viện ngày càng thưa thớt, ít ỏi dần rồi mất hẳn của cấp trên.

            Đến nửa đêm ngày 17 tháng 2, chúng tôi được lệnh chuyển vị trí chỉ huy tiểu đoàn xuống hang Huyện uỷ ở giữa thị trấn Sóc Giang. Hang nằm lưng chừng một mỏm núi đá trơ chọi giữa thị trấn. Nơi mà mấy ngày hôm sau đã diễn ra những trận đánh rất ác liệt khi quân địch từ phía sau đánh ngược lên thị trấn Sóc Giang. Chúng tôi lặng lẽ bám sát nhau đi theo lối mòn chân núi. Qua nghĩa trang thị trấn chúng tôi gặp các chiến sĩ trung đội vận tải của tiểu đoàn đang hì hục đào huyệt chôn cất các liệt sĩ. Có gần mười cán bộ, chiến sĩ, thân thể bê bết máu đang nằm trong nghĩa trang. Họ là những người hy sinh trong ngày đầu tiên của cuộc chiến tranh đã được đưa về đây. Họ được gói trong những tấm vải liệm còn mới tinh, trong những túi ni-lông. Họ được vùi vào trong lòng đất. Không có hương nhang, không có hoa, chỉ có những cành lá xanh cắm lên từng nấm đất ướt đẫm sương đêm nơi biên giới. Những ngày sau đó khi thị trấn Sóc Giang bị quân địch chiếm, bọn chúng đã cho đào các nấm mồ của các anh chị lên để tìm vì nghi ngờ ta chôn dấu vũ khí. Sau chiến tranh chúng tôi chôn cất lại cho các anh chị ấy. Vậy mà mới đó đã ba mươi bảy năm. Khi các anh chị ngã xuống khi tuổi đời vừa mới mười tám, đôi mươi. Bây giờ “tuổi liệt sĩ” của các anh chị ấy đã gần gấp đôi tuổi đời của họ khi đó.
 
           Ba mươi bảy năm đã trôi qua, hơn một phần ba thế kỷ, nhưng năm nào đến ngày 17 tháng 2 tôi cũng đều nhớ về những người đồng đội của mình mùa Xuân năm ấy. Đó là một mùa Xuân lạnh lẽo, đau thương, cánh hoa đào rừng vương trên báng súng của những người lính Việt trong một cuộc chiến đấu không cân sức với kẻ thù hung bạo để bảo vệ miền biên giới của Tổ quốc thân yêu.  
                                                                Hà Nội, 16/2/2016

Thứ Ba, ngày 22 tháng 12 năm 2015

Truyện ngắn MA Ở CẦU AO (phần 2)

 

     


          MA Ở CẦU AO
          Truyện ngắn của Trọng Bảo
 
          Tôi gặp chị Sinh ở Sài Gòn cuối năm 1975. Sau những giây phút vui mừng tay bắt mặt mừng vì người cùng làng gặp nhau chị Sinh chợt hỏi tôi:
          - Lâu rồi Nguyên có nhận được thư nhà không?
          - Em mới nhận được thư của bố mẹ. Thế còn chị. Chị có hay nhận được thư của anh Diện không?
           Chị Sinh cười buồn:
          - Mình với anh Diện chia tay rồi. Anh ấy đã lấy vợ cùng học ở nước ngoài từ cuối năm ngoái.
          Tôi giật mình:
          - Sao lại thế! Hồi giữa năm ngoái anh ấy về nước gặp em còn nói là rất nhớ chị, dặn em đi bộ đội vào Nam gặp chị chuyển lời hỏi thăm cơ mà!
          Chị Sinh lắc đầu:
          - Giả dối hết... anh ấy về lần đó là để chuẩn bị cưới vợ đấy!
          - Thế mà sao em lại không biết nhỉ?
          Chị Sinh xua xua tay:
          - Thôi bỏ cái chuyện vớ vẩn ấy đi... lòng dạ con người ai biết thế nào. Với lại mình lính tráng đánh đấm suốt ngày, người ngợm khô cứng làm sao còn sánh được với người ta là phó tiến sĩ nữa chứ?
           Chị Sinh nói như có vẻ năn thân. Tôi ngắm nhìn chị Sinh thật kỹ. Chị vẫn đẹp lắm. Những năm tháng chiến tranh ở rừng vẫn không làm mất đi ở chị sự dịu dàng và những nét hấp dẫn của một người con gái đẹp. Tôi chợt nhớ đến cái đêm ở cầu ao sau nhà. Chị Sinh bây giờ đã là một cán bộ trung đội thông tin. Hóa ra chị và tôi đều ở cùng một quân đoàn. Đơn vị chúng tôi chuẩn bị "lật cánh" ra làm nhiệm vụ ở biên giới phía Bắc. Lúc chia tay chị Sinh chợt hỏi tôi:
           - Nguyên vẫn còn giữ gói tóc mình đưa hôm nhập ngũ chứ?
           Tôi ớ người:
           - Ơ... chị chả dặn em là khi nào anh Diện về nước thì đưa cho anh anh à! Em đã đưa cho anh ấy rồi. Anh ấy nhận rồi cất ngay vào trong cái cặp da rất đẹp.
           Chị Sinh bùi ngùi:
           - Thôi được! Lần này ra Bắc gặp anh ấy mình sẽ xin lại. Chỉ sợ anh ấy không còn giữ được...
           Chị Sinh nói xong chào tôi để về đơn vị. Tôi nhìn theo chị Sinh. Chị bước đi có vẻ hơi vội. Mái tóc dài của chị ném qua, ném lại trên tấm lưng tròn.
            Nhưng rồi chị Sinh không có dịp gặp lại anh Diện để xin lại gói tóc của mình. Anh Diện ở suốt bên Liên-xô để làm nghiên cứu sinh tiến sĩ không thấy về nước lần nào. Mãi sau này gặp lại anh Diện tôi ngỏ ý muốn xin lại gói tóc của chị Sinh nhưng anh ấy bảo là để ở nhà bị lũ trẻ con nhà mình lấy đem đi đổi kẹo mạch nha mất rồi. Tôi biết anh ấy nói dối vì đã vứt bỏ mái tóc dài óng mượt ấy của chị Sinh đi rồi. Trong khi đó thì đơn vị của tôi và chị Sinh thì đóng quân ở tít trong rừng sâu biên giới với nhiệm vụ mở đường, vỡ đất làm kinh tế. Những năm tháng sau chiến tranh thật gian lao. Dân đói, lính đói. Chúng tôi ăn hạt bo bo cầm choòng, xà beng leo lên núi đục đá làm đường. Có thằng đói quá run lẩy bẩy ngã lộn cổ xuống khe núi phải đưa đi cấp cứu. Chị Sinh ở đại đội thông tin có đỡ hơn cánh lính bộ binh chúng tôi một chút nhưng cũng vẫn phải phát nương, làm rẫy, tự túc một phần lương thực và tham gia 50% ngày công lao động ngoài mặt đường. Bẵng đi một thời gian tôi không gặp chị Sinh. Một hôm, nghe tin chị bị ốm đang phải nằm điều trị ở bệnh xá trung đoàn. Tôi quyết định băng rừng đến thăm chị. Trạm xá trung đoàn ở gần đường quốc lộ 2. Từ chỗ đơn vị tôi trú quân để làm nền đường ra đến trạm xá của trung đoàn phải băng đèo vượt suối hết cả buổi sáng mới tới nơi. Chị Sinh bị ngã nước và sốt rét. Thấy tôi đến thăm chị vui lắm. Chị bảo sắp khỏi bệnh rồi. Nhưng tôi nhìn chị thấy mà lo. Chị gầy yếu quá. Da mặt chị xanh tái, mái tóc dày và dài gần chấm gót ngày nào bây giờ rụng mất nhiều lại xác xơ. Chị dặn tôi:
           - Viết thư về nhà đừng kể chuyện mình bị ốm kẻo gia đình mình biết lại lo lắng nhé!
           Tôi gật đầu rồi hỏi chị:
            - Nghe nói toàn đơn vị mình sắp chuyển quân sang án ngữ hướng Cao Bằng, chị có đi không?
          - Đi chứ! Mình là chiến sĩ của trung đoàn cơ mà!
          - Nhưng hình như lính của các đơn vị nữ được chuyển về tuyến sau, chuyển ngành hoặc đi học đấy chị ạ!
          - Nhưng mà mình xin ở lại và cấp trên cũng đồng ý rồi. Ngày mai, mình ra viện về đơn vị để làm công tác chuẩn bị...
           Tôi lặng nhìn chị Sinh. Tại sao chị lại không đi học hoặc chuyển ngành như các chị em khác trong đại đội thông tin mà lại xung phong lên tuyến trước. Tình hình biên giới phía Bắc rất căng thẳng. Chiến tranh đang cận kề. Đường ra trận lần này khác xa thời đánh Mỹ. Những đoàn quân vừa qua chiến tranh chưa kịp hưởng hòa bình đã bước vào trận mới. Không có sự hồ hởi mà chỉ có những nét đăm chiêu suy tư hiện rõ trên mặt từng người lính. Những bước chân nặng nề ngược chiều gió bắc. Chúng tôi đi theo lối cũ của cha ông.
           Tôi chia tay chị Sinh để quay về đơn vị trong rừng sâu. Chị Sinh tiễn tôi ra tận cổng trạm xá trung đoàn. Đó là lần cuối cùng tôi gặp chị Sinh. Khi cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc xảy ra (2-1979) tôi và chị Sinh ở hai hướng khác nhau. Cuộc chiến ác liệt, kẻ mất, người còn. Suốt tuyến biên cương mịt mù đạn lửa. Tất cả các trận địa, vị trí phòng ngự của trung đoàn tôi đều bị quân địch tấn công dữ dội ngay từ ngày đầu tiên của cuộc chiến tranh. Cái chiến thuật "biển người", lấy thịt đè người của bọn bành trướng thật không dễ đối phó. Tuyến trước, tuyến sau của đơn vị tôi không chi viện được cho nhau, không liên lạc được với nhau, đạn dược hết, người chết, bị thương không kể xiết. Sau chiến tranh tôi mới biết tin chị Sinh hy sinh. Sở chỉ huy của trung đoàn bị bọn địch tập kích. Bọn chúng tổ chức nhiều đợt tấn công liên tục suốt ngày đêm. Các cán bộ, chiến sĩ cơ quan trung đoàn bộ vẫn kiên cường chiến đấu. Họ đánh lui từng đợt tấn công của quân địch để bảo vệ hang đá sở chỉ huy. Đạn dược, lương thực cạn dần. Bọn địch dùng hơn tấn thuốc nổ đánh sập cửa hang chôn sống những người lính Việt Nam trong lòng núi đá. Chị Sinh là một người trong số hai mươi cán bộ, chiến sĩ bị kẹt trong hang. Khối đá nặng hàng trăm tấn sập xuống che lấp cửa hang khiến họ không thể chui ra. Một người dân bản Nà Sác kể lại rằng những ngày sau khi bọn giặc rút đi ông đã trèo lên chỗ cửa hang vẫn nghe tiếng kêu cứu ở bên trong lòng núi vọng ra rất rõ. Ông bùi ngùi nói: "Nhiều tiếng kêu cứu, có cả những tiếng rên la vì đau, vì đói ấy vọng qua khe đá từ lòng núi ra mấy ngày đêm liền mới lịm dần rồi tắt hẳn". Một số chiến sĩ công binh bí mật vượt qua đội hình quân địch tiếp cận cửa hang nhưng cũng không có cách nào phá được khối đá lớn để cứu đồng đội. Họ bị bọn lính sơn cước phát hiện bắn chết ngay lối lên hang đá. Phải đến gần mười năm sau công binh trung đoàn mới dùng bộc phá đánh vỡ khối đá nặng hàng trăm tấn để mở cửa hang sở chỉ huy trung đoàn ngày trước. Đơn vị công binh tìm thấy hài cốt của những cán bộ, chiến sĩ nằm rải rác trong hang đá. Nhiều hài cốt xác định ngay được danh tính vì trong túi áo của họ vẫn còn mã số của từng người. Trước khi chiến tranh xảy ra mỗi người chúng tôi đều được cấp một miếng bìa in mã số riêng của mình ép plattics cẩn thận để ai bị chết thì chôn theo đánh dấu mộ chí. Miếng bìa ấy chúng tôi luôn để trong túi áo ngực. Chị Sinh và một nữ chiến sĩ thông tin ôm nhau chết ở trong một hốc đá. Hai bộ hài cốt quấn vào nhau, các khốc xương của hai bàn tay còn lồng vào nhau, hai mái tóc dài rơi trên nền đá lạnh. Bên cạnh họ là hai khẩu súng AK hết đạn đã hoen gỉ qua năm tháng và một chiếc máy hữu tuyến. Cuốn nhật ký của chị trong ba lô vẫn trang cuối cùng viết dở, những nét chữ run run. Chắc là chị đã viết trong cơn đói đang hành hạ. Những người lính biên thùy đã chết đói ở trong hang đá bịt bùng như thế.
          Chuyện về chị Sinh thật buồn.
          Một ngày đầu đông, tôi trở về thăm quê. Đêm làng quê vẫn bình yên như xưa. Tôi ngồi lặng lẽ thật lâu trong căn nhà gỗ nhỏ nghe tiếng dế kêu ri rỉ ngoài vườn. Có lẽ đã gần sáng, dân làng đã chìm trong giấc ngủ sâu.
           Chợt nghe như có tiếng khỏa nước ở cầu ao phía sau nhà. Tôi dỏng tai nghe ngóng. Đúng là tiếng khua nước không phải là tiếng gió. Đêm thanh vắng tiếng nước khua rất rõ. Tôi nhẹ nhàng mở cửa bước ra thềm. Tôi đi vòng qua mấy bụi chuối ra chỗ cầu ao. Ánh trăng hạ huyền mờ ảo cũng giống như mấy chục năm trước. Tôi trông ra chỗ cầu ao ngày xưa và giật thót mình. Có một người đang ngồi trên cầu ao lưng quay lại phía tôi. Đó là một người con gái nhưng vóc dáng gầy gò, mái tóc thưa dài phủ không kín lưng. Một tấm lưng trần trong suốt như thủy tinh. Tôi hốt hoảng tự hỏi đó là người hay là ma. Có lẽ là ma thật rồi. Tự dưng tôi thấy ớn lạnh sống lưng, đầu óc mơ hồ, thảng thốt. Tôi định quay lại trở vào trong nhà thì người ngồi trên cầu ao bất ngờ quay lại. Tôi vô cùng sửng sốt nhận ra đó chính là chị Sinh. Khuôn mặt chị tuy gầy nhưng đôi mắt vẫn sáng như ngày nào. Nhưng… chị Sinh chết đã lâu lắm rồi cơ mà. Tôi lắp bắp định lên tiếng chào nhưng không thể cất nên lời. Chị Sinh lên tiếng hỏi:
          - Nguyên mới về thăm nhà à?
          Tôi lập cập đáp và hỏi lại:
          - Vâng… vâng… chị… cũng… mới về làng ạ?
          Chị Sinh gật đầu:
          - Mình cũng vừa về… mình đói lắm… có cái gì ăn cho mình xin một ít…
          Tôi nói:
          - Chị chờ… chờ để em vào trong nhà lấy nhé!
          Chị Sinh vội ngăn tôi lại:
          - Đừng… đừng… Nguyên đừng đi vội… Nguyên hãy cầm… cầm lấy tay mình một lát đi… mình đang rét lắm…
           Nói xong, chị Sinh đưa tay về phía tôi. Cánh tay của chị cứ dài dài ra mãi, từ cầu ao vươn tới tận bụi chuối chỗ tôi đang đứng. Cánh tay chị cũng trong suốt như thủy tinh và vô cùng lạnh lẽo. Tôi hoảng quá hét lên: “Ma… ma…” và giẫy giụa cố thoát khỏi bàn tay rất lạnh của chị Sinh…
           Tôi giật mình bừng tỉnh, trán túa mồ hôi. Hóa ra đó chỉ là một giấc mơ. Trời đang trở gió. Những cơn gió bắc lạnh lùng bắt đầu tràn về. Tôi định trùm chăn ngủ tiếp thì nghe như có tiếng gọi, tiếng khua nước ở phía sau nhà. Tôi cấu tay mình một cái thấy đau biết không còn là mơ ngủ nữa. Tôi vớ cây đèn sạc đi ra phía cầu ao. Cái cầu ao bằng miếng gỗ cũ kỹ mọc đầy rêu đã được thằng em thay bằng một tấm bê-tông phẳng lì. Tôi soi đèn xuống cầu ao. Có một vũng nước như ai vừa mới từ dưới ao ngoi lên ngồi trên cầu ao. Tôi dọi đèn ra phía giữa ao. Hơi nước và sương mù dày đặc khiến ánh sáng không thể chiếu xa nhưng vẫn thấy rõ có vệt sánh nước rẽ ra như ai đang bơi về phía bên kia bờ. Tôi tự nhủ hay đúng là chị Sinh vừa mới ngồi ở cái cầu ao này như cái đêm năm nào trước ngày nhập ngũ.
           Hôm sau, tôi bảo thằng em làm một mâm cơm cúng đem ra chỗ cầu ao. Mâm cơm này tôi muốn dành để cúng chị Sinh. Tôi thầm khấn gọi chị về mà ăn lấy một bữa cho no. Bố mẹ chị đều đã mất cả rồi. Nhà chị chỉ còn một cô em gái lấy chồng xa. Mộ của chị thì vẫn ở một nghĩa trang mãi trên miền biên ải. Có lẽ chị Sinh đang là một con ma đói giống như khi còn sống mà phải nằm chết đói, chết khát trong chốn hang sâu.
            Chẳng biết chuyện ma quỷ có thật hay không. Lúc mấy nén nhang cháy hết thằng em tôi bưng mâm cỗ vào nhà. Một cơn gió mạnh bỗng thổi ào qua làm một cây chuối đang mang buồng đổ gục xuống ao. Sóng nước mặt ao dềnh lên. Thằng em tôi giật mình trượt chân, đĩa xôi và con gà trên mâm rơi tõm luôn xuống ao. Nó liền nhảy ngay xuống mò tìm mãi nhưng không thấy. Chả lẽ cá dưới ao đã kịp đớp mất hay đúng là chị Sinh đã nhận và đem lễ cúng đi rồi…

           (hết)                                                                      Hà Nội, 25/11/2015


Chủ Nhật, ngày 20 tháng 12 năm 2015

Truyện ngắn MA Ở CẦU AO (phần 1)

 

     
MA Ở CẦU AO
Truyện ngắn của Trọng Bảo
Làng tôi ngày xưa người thưa. Mấy chục nóc nhà nhưng hầu như gia đình nào ngoài khoảnh vườn trồng cây ăn quả cũng đều có một cái ao để thả cá. Cái ao nằm giữa vườn cây tạo nên phong cảnh thật hữu tình. Bên này ao anh ngồi câu cá, bên kia bờ cô gái giặt áo, vớt bèo. Những mối tình nảy nở. Những bóng hình lứa đôi soi bóng nước ao nhà. Những cái ao ngày ấy rất rộng và trong xanh và trong mát. Những trưa hè, tụi trẻ con trong làng thường nhảy ùm xuống ao tắm. Một đoạn cây chuối mấy thằng bám vào bì bõm tập bơi.
Phía sau nhà tôi là một cái ao rất rộng, có lẽ phải đến mấy mẫu Bắc bộ. Cái ao này vốn là của gia đình địa chủ Vũ Bân. Thời cải cách ruộng đất ao được chia cho mấy gia đình bần cố nông cùng chung nuôi cá, thả bèo cho lợn. Đến thời kỳ hợp tác xã thành lập cái ao được công hữu trở thành tài sản chung. Đội sản xuất vừa thả cá vừa tích nước để chống hạn. Bố tôi vào rừng tìm đến nơi cánh thợ xẻ đang khai thác xin một tấm bìa gỗ lim đem về. Ông đục đẽo, chôn cọc làm một chiếc cầu ao. Cái cầu ao sau nhà là nơi đãi gạo, rửa rau, rửa chân và dụng cụ khi đi làm đồng về. Cầu ao cũng là nơi tôi hay ngồi câu cá. Cạnh cầu ao là một gốc sung già cành chi chịt những quả. Quả sung chín rụng tõm xuống ao làm mồi cho cá đớp.
Tôi rất thích đi câu cá. Bọn chúng tôi có những chiếc cần câu trúc uốn cong rất đẹp và dẻo. Chúng tôi thường kéo nhau đi cả buổi lên rừng tìm cần câu. Quê tôi ngày ấy rừng già rậm rạp, có những cây gỗ quý như lim, de, rùa mấy người ôm không xuể. Những bụi tre, bụi trúc, rừng rui cũng nhiều, tha hồ mà chọn những cây trúc, cây rui thật suôn, thật thẳng về uốn làm cần câu. Mỗi đứa chúng tôi đều có đủ các loại cần câu. Cần câu cá trê, cá chuối phải cứng, cần câu cá rô, cá diếc phải mềm, phải dẻo, cần câu tôm càng thì chỉ là những thanh tre vót mảnh như cái tăm. Những cái ao trong làng ngày ấy rất nhiều các loại cá hoang hay cắn câu như cá trê, cá rô, cá chuối, lươn, trạch...
 Câu cá ở ao cũng là cả một nghệ thuật và sự kiên trì. Cá rô ta thường gọi là rô đồng ăn nhạy nhưng khó dính vào lưỡi câu. Trừ loại cá rô phi là ham mồi, có con bị giật trượt rách cả mép vẫn cứ lau nhau lao vào đớp mồi. Cả đàn xoắn xuýt quanh mồi câu, có lúc giật lên thấy lưỡi câu móc cả vào bụng cá. Cá trê thì chậm bắt mồi câu nhưng khi đã đớp mồi thì thường nóng vội kéo vút đi ngay. Đêm cá trê hay cắn câu hơn ban ngày. Nhưng ngồi câu đừng ngủ gật, lỏng tay cần, cá kéo mạnh lôi luôn cần câu ra giữa ao, trời thu lạnh ngại lội xuống vớt. Có đêm gặp đàn cá ham mồi tôi giật được cả vài chục con cá trê màu vàng ươm. Cá trê kho nục hoặc cá trê nướng ăn đều ngon. Câu cá chuối là cả một sự kiên trì và khôn khéo. Cá chuối cái đẻ trứng hoặc đang nuôi con nhỏ thường dễ câu hơn. Chí cần móc lưỡi câu vào một con trạch hay con nhái còn sống thả vào đàn cá con là sẽ giật ngay được con cá cái. Cá chuối cái ham con, rất quyết liệt bảo vệ con, thấy có con vật nào ngoe ngoảy giữa đám con của mình là sẽ lao đến đớp ngay. Khi con cá cái bị vướng lưỡi câu, con cá chuối đực vẫn tiếp tục bảo vệ đàn con đến khi chúng lớn mới thôi. Câu được cả con cá đực này không phải là dễ. Mùa thu ao cạn, nước trong veo, nhìn rõ cả con cá chuối nằm im gần bờ. Nó gần như bất động. Muốn câu được nó phải nấp thật kín, cần câu phải thò ra thật nhẹ nhàng, không để gây ra tiếng động và điều quan trọng nhất là phải thả mồi câu ở xa về phía đuôi của con cá. Cá chuối rất thính. Khi thấy động ở phía sau nó sẽ quay ngoắt lại và đớp mồi. Còn nếu thả mồi ngay phía trước mặt nó thì nó lập tức phóng vút ngay ra giữa ao lặn mất tăm.
 Năm tôi đang học dở lớp 10 thì giặc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc. Đám học trò cuối cấp ba chúng tôi lần lượt lên đường nhập ngũ vào miền Nam chiến đấu. Con gái cũng xung phong ra trận. Ngày ấy thanh niên nam nữ ít người còn ở lại hậu phương. Khi chưa có lệnh gọi nhập ngũ, chúng tôi vẫn phải gắng sức học hành cho thật tốt. Lớp học sơ tán vào trong rừng cọ. Khi máy bay ném bom bắn phá rát quá thì nhà trường cũng tạm cho học sinh nghỉ học để đảm bảo an toàn. Buổi đêm, giáo viên chia nhau xuống các xóm dạy cho từng nhóm học sinh. Làng tôi có năm đứa cùng học lớp 10. Chúng tôi tụ tập ở nhà cái Thường gần chân đồi để thầy cô giáo đến hướng dẫn học bài mới. Đêm đến làng xóm vắng lặng. Người già, trẻ con ở luôn trong lán trại nơi sơ tán đề phòng máy bay Mỹ thả bom trúng xuống làng. Ở làng buổi đêm chủ yếu chỉ còn các dân quân làm nhiệm vụ tuần tra canh gác và đám học sinh lớn chúng tôi.
 Đêm ấy yên tĩnh. Máy bay giặc Mỹ không quần đảo trên bầu trời như hằng đêm. Trăng cuối tháng mờ ảo. Chúng tôi được thầy cho nghỉ học sớm để chuẩn bị sáng sớm tinh mơ ngày mai đi đưa tiễn gần hai chục thanh niên trong xã lên đường nhập ngũ. Tôi về đến nhà thì đã nửa đêm. Cả nhà đang ở nơi sơ tán. Cất sách vở và cái đèn dầu vào góc bàn tôi tìm cái cần câu đi ra cầu ao phía sau nhà. Mồi câu là những chú giun tôi đã chuẩn bị sẵn từ chiều để trong cái ống tre. Đêm làng quê mờ ảo trong ánh trăng hạ huyền. Vừa chui định qua bụi chuối tiêu sát bờ ao thì tôi giật mình sững lại. Có tiếng nước khua nhè nhẹ ở cầu ao. Tôi hơi hoảng hốt khi trông thấy có một bóng người mờ mờ trắng ngồi trên cầu ao, mái tóc dài rũ xuống nổ lênh phềnh trên mặt nước. Tôi cố căng mắt ra nhìn. Mặt trăng cuối tháng đã mòn lại chui vào mây nên không trông rõ ràng. Là người hay là ma. Khi tôi còn nhỏ bà và bố mẹ thường bảo ở cái cầu ao có một con ma. Lớn lên tôi mới hiểu là bà và bố mẹ dọa lũ trẻ con chúng tôi như vậy để khỏi ra chỗ cầu ao chơi ngã chết đuối. Biết vậy những tôi cũng thấy hơi sờ sợ. Cái cảm giác lành lạnh chạy dọc sống lưng. Mặt trăng dần chui ra khỏi đám mây. Tôi căng mắt ra nhìn. Đúng là có một người, một con ma nữ đang ngồi trên cầu ao. Một con ma nữ khỏa thân. Màu trắng xanh mờ là của làn da. Màu đen như mun là mái tóc. Tôi tự nhủ nếu là người thì là ai nhỉ. Mấy nhà bên cạnh đều đi sơ tán hết và không nhà nào có con gái lớn. Nếu là ma thì có lẽ đây là lần đầu tiên tôi gặp ma. Tôi thấy run bắn, tim đập thình thịch. Tôi định bỏ chạy nhưng hai chân cứ ríu lại. Khi còn nhỏ thể trạng tôi yếu ớt, ngủ mê hay gặp ác mộng. Lớn lên tuy có khá hơn nhưng tôi vẫn hơi sợ mỗi khi nghe chuyện ma quỷ.
Trăng bỗng như sáng hơn. Con ma nữ khỏa thân đột nhiên đứng dậy trên chiếc cầu ao. Mái tóc nó dài bay bay theo gió. Hay là người không phải là ma? Tôi rướn người lên nhìn. Đó là một người con gái nhưng có lẽ là ma. Người con gái ma nữ ấy đứng kiễng chân trên cái cầu ao mong manh. Đôi chân trắng thon láng nước. Hai cánh tay ma nữ ra như muốn tắm cả ánh trăng nữa. Tôi không nhìn rõ khuôn mặt con ma vì mái tóc đen dày bay che khuất, con ma lại nhìn ra phía giữa ao. Không dám thở mạnh, tôi cố nhấc chân để lùi lại mắt vẫn chăm chú nhìn về phía cầu ao. Tay phải cầm cái cần câu của tôi chợt chạm vào một tàu lá chuối khô tạo nên tiếng sột soạt nhè nhẹ. Con ma nữ giật mình quay lại, hai ban tay bưng lấy ngực. Tôi hốt hoảng ngồi thụp xuống. Con ma đứng yên trên chiếc cầu ao nhìn chăm chăm vào bụi chuối tiêu. Một cơn gió bất ngờ thổi mạnh. Những tàu lá chuối khô trước mặt tôi đu đưa qua lại sào sạc. Có lẽ nhận ra đó chỉ là một cơn gió nên con ma nữ yên tâm. Vẫn nhìn về phía bụi chuối, con ma nữ từ từ buông hai bàn tay ra khỏi ngực. Tôi bàng hoàng khi thấy một cơ thể trần trụi trắng xanh, một bộ ngực con gái tràn đầy vênh lên lấp lóa trong ánh trăng. Tôi nhìn rõ từng chi tiết, những đường cong đầy hấp dẫn ma mị trên cơ thể con ma nữ nhưng vẫn không trông rõ mặt con ma bởi mái tóc đen dài bị gió thổi tung tràn che lấp mất khuôn mặt. Đứng yên một lát rồi con ma nữ trụt xuống ao biến mất. Một vệt sóng xô về phía bên kia bờ ao nơi có một khu vườn rậm rạp, sẫm tối bóng đêm. Mặt trăng cũng sa xuống thấp khất dần vào những đám mây vần vũ chân trời phía tây.
 Phải mất một lúc sau tôi mới định thần để quay vào nhà. Hình ảnh con ma nữ khỏa thân ở cầu ao sau nhà cứ ám ảnh mãi trong đầu tôi. Tôi chợt tỉnh sau giấc ngủ chập chờn. Có tiếng gọi ngoài cổng. Đã gần sáng. Tôi vội bật dậy để theo đám bạn trong lớp đi đưa tiễn những người lên đường nhập ngũ hôm nay. Chúng tôi đến chỗ tập trung của xã thì trời sáng hẳn. Trên một bãi đất rộng dưới tán rừng lá cọ có một tấm phông trang trí đơn giản để làm lễ giao nhận quân. Thanh niên nam nữ trong xã có mặt rất đông. Những chiến sĩ dân quân vao mang súng, lưng đeo vòng ngụy trang. Những thanh niên nhập ngũ hôm nay đã được phát ba lô, quân phục mới tinh. Tiếng nói cười râm ran, có cả những giọt nước mắt của những người thân đưa tiễn con em ra trận.
Tôi đang len lỏi giữa đám đông thì có tiếng gọi giật phía sau:
- Nguyên ơi!
Đó là tiếng con gái. Tôi vội quay lại. Một người con gái mặc bộ quân phục mới tinh, vai đeo ba lô, đầu đội chiếc mũ mềm, mái tóc ngắn đang chen đến. Tôi vô cùng ngạc nhiên nhận ra đó là chị Sinh. Chị Sinh là người cùng làng. Chị Sinh hơn tôi hai tuổi. Tôi vội hỏi ngay:
- Chị... chị cũng đi bộ đội đợt này à?
- Ừ! Mình được biên chế về đơn vị thông tin. Nguyên thấy mình mặc quân phục có đẹp không?
Quả là bộ phân phục mới rất vừa vặn với cơ thể của chị. Tôi bảo:
- Đẹp... nhưng mà con gái mà mặc quân phục vào trông hơi... cưng cứng và khô khô thế nào ấy chị ạ!
- Hừ... Thôi, Nguyên ra đây mình nhờ một chút!
Chị Sinh nói giọng nhẹ như tiếng gió. Chị có vẻ hơi mếch lòng. Chị đang vui vì được mang trên mình bộ quần áo bộ đội mới tinh thế mà lại có người chê thẳng thắn thế. Chị túm lấy tay tôi kéo ra chỗ gốc cây cọ ở bìa rừng. Đặt chiếc ba lô xuống vừa mở cái túi cóc chị Sinh vừa ngập ngừng hỏi tôi:
- Tối hôm qua Nguyên có đi câu cá không?
Tôi giật mình ấp úng:
- Không... không... hôm qua em đi ngủ từ chập tối...
- Thế thì tốt...
Chị Sinh thở phào. Tôi cố dấu sự bàng hoàng, lúng túng. Hóa ra con ma nữ khỏa thân đêm qua ở cầu ao chính là chị Sinh. Nhà chị ở mãi giữa xóm sao lại ra tắm đêm ở cái ao cạnh nhà tôi thế này. Nhưng mà con ma nữ đêm qua tóc nó rất dài còn mái tóc của chị Sinh thì lại rất ngắn.
Chị Sinh lấy trong túi cóc ba lô ra cái gói bằng một chiếc khăn mù xoa thêu hoa đưa cho tôi rồi bảo:
- Khi nào anh Diện đi học ở nước ngoài về nhờ Nguyên đưa cho anh ấy nhé!
- Cái gì đây hả chị?
Tôi hỏi lại và nắn nắn cái gói. Bàn tay tôi có cảm giác thấy một sự mềm mại. Chị Sinh khoác chiếc là lô lên vai rồi bảo:
- Là búi tóc của mình đấy! Mình cắt gửi lại cho anh Diện giữ làm kỷ niệm trước khi ra chiến trường, để anh ấy luôn nhớ đến mình mãi mãi. Anh ấy rất thích vuốt mái tóc dài này của mình.
Thì ra vậy. Thảo nào mà mái tóc của chị lại ngắn như vậy. Anh Diện và chị Sinh yêu nhau đã lâu, rất thắm thiết. Nhưng họ chưa tổ chức đám cưới vì anh Diện được cử đi học ở tận Liên-xô. Anh ấy là con trai duy nhất của một người liệt sĩ thời kháng chiến chống Pháp. Đối với tôi anh Diện còn là chỗ họ hàng xa. Cầm gói tóc thơm mùi bồ kết của chị Sinh tôi cứ bần thần mãi. Vậy con ma nữ khỏa thân đêm qua ở cầu ao đúng là chị Sinh rồi. Chị ấy thật là đẹp. Sau này khi đọc nhật ký của chị Sinh tôi mới biết là chị muốn tắm ở cái ao làng trước khi ra trận, vẫy vùng ở biển lớn. Cũng chính từ cái ý nghĩ đầy mộng mơ và vô cùng lãng mạn ấy của chị mà tôi lần đầu tiên được tận thấy một tuyệt phẩm của tạo hóa.
 Lúc chuẩn bị lên xe để về đơn vị chị Sinh nói nhỏ với tôi:
 - Mình biết đêm qua Nguyên có đi câu cá... Nhưng Nguyên đừng nói với ai đã chuyện gặp... ma ở cầu ao nhé! Mình đi đây, hẹn ngày chiến thắng gặp lại...
 Chị Sinh giơ tay bắt tay tôi thật chặt. Bàn tay chị nóng bỏng. Tôi ngỡ ngàng nhìn theo chị Sinh. Chiếc ba lô đeo kéo vít ra phía sau làm vồng ngực chị căng lên tròn trịa. Chiếc xe chở tân binh rẽ ngoặt phóng ra hướng quốc lộ. Bụi đường bay lên mù mịt.
Đó là một ngày cuối năm 1972...
(hết phần 1)                                                                Hà Nội, 25/11/2015


 

Thứ Hai, ngày 14 tháng 12 năm 2015

Truyện dài TRĂNG LẠNH (phần cuối)

 

          
                     

            TRĂNG LẠNH
         Truyện dài của Trọng Bảo

         Thằng Nam huấn luyện ở Bắc Thái mấy tháng thì cùng đơn vị hành quân đi B chiến đấu. Ở chiến trường đạn bom gian khổ nhưng nó luôn nhớ và ngóng tin tức quê hương. Thỉnh thoảng, thằng Nam mới nhận được một thư của gia đình hoặc của anh chị em trong trung đội dân quân làng Hạ. Nó biết tin trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai của giặc Mỹ, trung đội dân quân làng Hạ cùng đơn vị bộ đội cao xạ 37ly bắn rơi thêm một chiếc máy bay phản lực Mỹ, bắt sống tên giặc lái, bảo vệ an toàn cây cầu sắt trên sông Phó Đáy, giữ vững giao thông trên tuyến quốc lộ 2C. Nhưng trong trận ấy dân quân làng Hạ có thêm mấy người nữa bị thương.
            Khi cùng đơn vị hành quân vào chiến dịch cuối cùng giải phóng Sài Gòn, thằng Nam bất ngờ gặp một người bạn cùng làng. Đó chính là thằng Thứ. Hai đứa vui mừng ôm chầm lấy nhau, kể cho nhau nghe đủ mọi chuyện, nhất là những chuyện về làng Hạ. Thằng Nam kể câu chuyện tình của chị Nhân với Dương Thụy rồi bảo:
           - Cái tay phó tiến sĩ ấy đúng là đồ Sở Khanh mày ạ! Hắn chuồn mất hút mạng lươn luôn, không hỏi han, liên lạc gì với chị Nhân nữa...
           Thằng Thứ nghe vậy nổi cáu cắt lời thằng Nam:
           - Sao chúng mày không nện cho nó một trận hả?
           - Nện sao được! Hắn là con một ông cán bộ cấp to, giả vờ bị bệnh để khỏi phải đi bộ đội. Hắn bám theo các cán bộ lớn tuổi và đám phụ nữ cơ quan đi sơ tán lên quê ta. Sau trận bom hôm ấy và nhất là sau chuyện chị Nhân bị sảy thai, sợ bị kiểm điểm kỷ luật, hắn xin ông bố đưa đi ngay. Rồi hắn chuồn ra nước ngoài nghiên cứu sinh, làm luận án tiến sĩ. Biết nó ở đâu mà nện!
             Thằng Thứ nuốt hận hỏi tiếp:
             - Thế còn chị Nhân?
             - Chị Nhân buồn và chán nản lắm. Chị ấy từ chức tiểu đội trưởng, xin đi thanh niên xung phong mở đường. Nghe nói chị ấy cũng đã vào trong này rồi đấy.
             Thằng Thứ im lặng. Nó mong gặp lại chị Nhân ở mặt trận để một lần nữa xin lỗi chuyện ngày nào ở ruộng bèo hoa dâu. Sau lần ấy thằng Nam và thằng Thứ đều cùng đơn vị tham gia các trận đánh ác liệt ở cửa ngõ Sài Gòn. Thằng Nam bất ngờ gặp lại thằng Thứ trong một hoàn cảnh rất đặc biệt. Hôm ấy, thằng Nam cùng tiểu đội nhận nhiệm vụ an táng một chiến sĩ vừa hy sinh trong trận đánh ở Xuân Lộc đi mai táng. Thằng Nam và đồng đội đưa thi hài người lính ấy vào khu vực nghĩa trang ở mặt trận. Tại đây đã có những nấm mộ nhiều chiến sĩ các đơn vị hy sinh trong các trận đánh trên đường tiến về giải phóng Sài Gòn. Sau khi chôn cất người lính vừa hy sinh xong, thằng Nam mới nhìn sang một nấm mộ mới chôn ngay bên cạnh. Thằng Nam chợt trố mắt sửng sốt khi đọc dòng chữ viết vội bằng sơn đen trên một tấm bia làm bằng gỗ: “ Quang Thứ, sinh năm 1953, quê xã Hòa Sơn, Vĩnh Phú, hy sinh ngày 27-4-1975”. Đúng là thằng Thứ bạn thân cùng quê với mình đây rồi. Thằng Nam thấy tim mình nhói đau, cổ họng đắng ngắt. Nó thầm khóc và gọi bạn: “Khổ thân mày quá Thứ ơi! Sao mày lại nằm lại ở cái nơi xa xôi thế này. Mày đã dặn tao là ngày chiến thắng hai thằng sẽ cùng nhau trở về quê hương trung du cơ mà”.
             Mấy tháng sau ngày giải phóng miền Nam, thằng Nam được về phép thăm nhà. Nó phấn khởi lên tàu ra Bắc. Toa xe quân sự toàn là lính quê ở miền Bắc. Những người sống sót sau trận chiến vui trên đường trở về nhà. Suốt hành trình mấy ngày đêm toa tàu luôn râm ran tiếng nói cười. Hầu như thằng lính nào trên đường ra bắc tay cũng xách một cái khung xe đạp, trên nắp ba lô gài một con búp-bê mắt nhắm mở, tóc vàng hoe. Thằng Nam cũng thế. Nhưng nó không mang khung xe đạp mà chỉ có một con búp-bê nho nhỏ.
             Ra đến Hà Nội, thằng Nam chuyển sang tàu ngược Lào Cai. Đến ga thị xã Vĩnh Yên thì quá trưa. Xe ca về huyện ngày chỉ có một chuyến đã chạy từ sáng sớm mà mua được vé cũng rất khó. Thằng Nam quyết định cuốc bộ về làng. Sự háo hức được trở về nhà sau bao năm đi xa thì hơn hai chục cây số đối với nó bây giờ chả là gì so với chặng đường dài hành quân ra trận. Đi một mạch thì chỉ đến gần tối là nó đã có mặt ở nhà rồi. Thằng Nam khoác chiếc ba lô nhẹ tênh trên vai vừa đi vừa ngắm cảnh. Thỉnh thoảng, nghe có tiếng ô tô phía sau nó ngoái cổ lại xem nếu là xe tải thì vẫy xin đi nhờ. Nếu đó là xe con thì thôi, vì chẳng ai cho một thằng lính quèn như nó lên xe, muốn thu tiền cũng khó. Thằng Nam guồng chân cuốc bộ. Chả mấy chốc nó đã đến chỗ ngày xưa từng bị anh công an chặn lại khi đạp xe đi mua quả bóng ở thị xã trở về. Hôm ấy, nó đạp xe bỏ chạy bạt mạng làm rơi mất hai bánh chè mạn khô.  Thằng Nam đang hồi tưởng lại chuyện cũ thì có tiếng còi xe ô tô. Nó ngoái lại và trông thấy một chiếc xe U-oát đang phóng rất nhanh cuốn bụi mù mịt. Biết khó có thể xin đi nhờ nên thằng Nam liền quay mặt tiếp tục rảo bước. Chiếc xe con vượt qua thằng Nam thì phanh kít lại. Một người thò đầu ra hỏi:
            - Đồng chí thượng sĩ có đi nhờ xe không?
            Thằng Nam ngạc nhiên. Nó đi nhanh đến chỗ chiếc xe nhìn người vừa hỏi và reo lên vui mừng:
            - Ối! Chào xã đội trưởng Phạm Bản! Cho em đi nhờ xe về quê với!
            Chiến sĩ lái xe trợn mắt nhìn thằng Nam quặc lại:
            - Ai là xã đội trưởng của cậu hả! Đây là đồng chí thượng úy, tiểu đoàn trưởng của chúng tôi đấy!
             Phạm Bản cũng bảo:
            - Mà mày chào cũng sai bét rồi. Khi mày lên đường nhập ngũ tao vẫn chỉ là xã đội phó cơ mà, có được phục chức xã đội trưởng đâu. Nhưng thôi, chuyện cũ qua lâu rồi, lên xe đi!
            Thằng Nam vội chui vào xe ngồi ở ghế sau. Chiếc xe lập tức chuyển bánh. Phạm Bản và thằng Nam nói chuyện rôm rả, vui vẻ. Bây giờ thì thằng Nam mới biết là ngay sau khi nó lên đường nhập ngũ thì xã đội phó Phạm Bản cũng tái ngũ. Anh vào ngay chiến trường. Với những chiến công xuất sắc và tài năng chỉ huy đơn vị chiến đấu, Phạm Bản được phong cấp, đề bạt chức vụ khá nhanh. Phạm Bản hiện giờ là tiểu đoàn trưởng một tiểu đoàn trinh sát. Anh đang đi tiền trạm để chuẩn bị cho đơn vị lật cánh ra làm nhiệm vụ bảo vệ biên giới phía Bắc. Trên đường lên biên giới anh tranh thủ tạt qua thăm nhà. Trò chuyện với nhau thằng Nam cũng mới biết nó và Phạm Bản hiện đang ở cùng một quân đoàn. Thượng úy Phạm Bản bảo
             - Nếu mày muốn tao sẽ xin cho chuyển về cùng đơn vị, anh em có nhau.
              - Được thế thì tốt quá anh ạ! - Thằng Nam đáp.
             Xe chạy một loáng đã về đến xã Hòa Sơn. Mới hơn ba giờ chiều. Thằng Nam bảo lái xe cho mình xuống đầu làng Hạ. Tiểu đoàn trưởng Phạm Bản dặn nó khi nào hết phép trở lại đơn vị nhớ sang tiểu đoàn của anh chơi. Thằng Nam gật đầu và chia tay với Phạm Bản. Nó khoác chiếc ba lô rẽ vào làng mình.
             Đến đám ruộng ghềnh đầu làng thằng Nam chợt trông thấy một người phụ nữ trẻ đang nhổ cỏ ở ruộng trồng lạc. Người phụ nữ quay lưng lên phía đường nên không rõ mặt. Người phụ nữ này chỉ còn một cánh tay phải. Một cô bé độ bốn năm tuổi xinh xắn đứng bên cạnh đang líu lo kể chuyện ở lớp mẫu giáo. Nhìn dáng người phụ nữ có vẻ quen quen. Thằng Nam định lên tiếng chào hỏi thì người phụ nữ đột nhiên quay đầu lại. Thằng Nam reo lên vui mừng:
             - Liên... Liên đấy phải không?
             Cái Liên đứng dậy đưa cánh tay phải lên gạt mồ hôi. Tay áo bên trái bay bay trong gió chiều. Cái Liên cũng reo lên vẻ vui mừng không kém:
            - Ôi... Nam... Nam đã về đấy à?
            Đoạn, cái Liên quay sang bảo đứa bé:
             - Hằng, con chào... chú... À không, chào bác Nam đi con!
            Con bé khoanh tay lễ phép: "Cháu chào bác Nam ạ!". Thằng Nam càng ngạc nhiên, có nghe chuyện Liên lấy chồng bao giờ đâu mà con gái đã lớn thế này. Chuyện Liên bị thương trong một trận chiến đấu bắn máy bay thì nó đã biết. Nhưng Liên bị mất hẳn cánh tay trái thế này thì thằng Nam cũng không ngờ. Cái Liên buông nắm cỏ dắt con gái lên đường gặp thằng Nam. Thằng Nam đặt cái ba lô xuống vệ cỏ gỡ con búp-bê gài trên nắp ba lô ra đưa cho bé Hằng:
             - Bác tặng cháu con búp-bê này!
             Con bé thích quá nhưng không dám cầm vì chưa được mẹ cho phép. Nó ngước đôi mắt tròn xoe lên nhìn mẹ. Cái Liên bảo:
             - Nam đem về là để làm quà cho các cháu ở nhà cơ mà!
             Thằng Nam đặt con búp-bê vào tay bé Hằng rồi nói:
              - Thấy anh em mua thì mình cũng mua một con chứ nhà mình có cháu nhỏ nào đâu mà chơi búp-bê.
              Bé Hằng được mẹ cho phép nhận quà thích quá vội cảm ơn bác Nam rối rít rồi ôm con búp-bê áp lên má đu đưa như ru em ngủ. Hai mắt con bé long lanh vì niềm vui sướng bất ngờ. Nhìn con bé thật xinh, thật giống mẹ.
              Trên đường vào làng, thằng Nam hỏi cái Liên về những người đồng đội cũ trong trung đội dân quân thường trực làng Hạ. Cái Liên kể tóm tắt cho thằng Nam nghe mọi chuyện đã xảy ra trong quãng thời gian nó đi xa. Đầu tiên là chuyện của chị Nhân. Bị trụy thai với tay phó tiến sĩ "họ dê" trong chiến đấu chị rất nuồn. Phó tiến sĩ Dương Thụy lại biến mất tăm. Quá mệt mỏi với những lời đàm tiếu chê trách, chị Nhân viết đơn xin đi thanh niên xung phong. Đơn của chị được chấp thuận ngay. Lãnh đạo xã cũng mong chị đi cho đỡ ảnh hưởng thành tích của lực lượng dân quân xã Hòa Sơn nhiều năm quyết thắng. Đầu năm 1973, sau hiệp định Pa-ri, chị Nhân trở về quê lấy chồng. Chồng chị là một chiến sĩ công binh mà chị đã gặp trên tuyến đường Trường Sơn. Anh chồng chị đã công tác trên tuyến đường này hơn chục năm. Anh chồng chị Nhân cũng được về phục viên sau đó. Khi chị Nhân có mang, nhà chồng vui lắm. Họ chờ đợi một đứa cháu đích tôn để nối dõi tông đường.
             Nhưng đứa con chị Nhân sinh ra đã khiến bà mẹ chồng ngất đi. Không ai biết là di chứng chất độc da cam mà chỉ nghĩ đích thị là loài yêu quái lộn kiếp thành người. Thằng con của chị Nhân đầu to hơn cả thân người, không có tai, con ngươi lồi hẳn ra khỏi hốc mắt, tay chân thì co quắp, thiếu ngón. Nó không biết nói, biết đi, chỉ biết ngửa mặt lên trời mà cười. Sau đứa con này, chị Nhân mãi không có thai lại nữa. Anh chồng chị chán nản, sa vào rượu chè, cờ bạc. Bà mẹ chồng thì suốt ngày nguyền rủa chị đem ma quỷ đến nhà. Mặc dù đứa con dị tật ấy chưa chắc chỉ là lỗi của riêng chị. Chị Nhân cắn răng chịu đựng lầm lũi làm lụng nuôi con. Nỗi đau bất hạnh biến chị thành một cái bóng đi về vô cảm. Vào một ngày cuối năm, bà mẹ chồng gọi chị đến trước bàn thờ tổ tiên. Vừa run rẩy kéo vạt áo lau nước mắt, bà vừa nghẹn ngào nói: "Thôi thì mẹ xin cắn rơm, cắn cỏ lạy con! Chồng con là độc đinh, trưởng họ. Con hãy buông tha cho nó. Để nó cưới vợ khác, lấy người nối dõi tông đường, hương khói cho tổ tiên con ơi…". Chị Nhân gạt nước mắt đưa con về ở với mẹ đẻ. Mẹ con, bà cháu dắt díu nhau bỏ làng ra đi. Họ dựng một căn nhà nhỏ gần chân núi Sáng, đói no nhờ vào nương sắn và gánh hàng rau mua đầu chợ, bán cuối chợ của chị.
             Nghe chuyện của chị Nhân thằng Nam thấy buồn quá. Nó hỏi về anh Hừng. Cái Liên bảo:
             - Anh Hừng bây giờ khá hơn rồi. Con gái đầu anh ấy vừa thi đỗ vào trường đại học. Hiện thì anh ấy đang ở ngoài bến sông...
             - Anh ấy làm gì ở ngoài bến sông thế?
             - Anh ấy trông nhà cho lão Vận. - Kể đến cái Liên mới chợt nhớ ra: - Lão Vận chết rồi. Số lão ấy cô đơn, chết không ai biết. Nghe con chó của lão Vận kêu thảm thiết trong nhà bọn trẻ con vạch liếp ngó vào thấy lão ấy nằm còng queo cạnh cái bếp nguội lạnh mới chạy đi báo cho ông Đạt đội trưởng biết. Khi dân làng đến thì lão Vận chết cũng phải đến nửa ngày rồi. Lúc khâm liệm, trong cái quan tài đóng sẵn tìm thấy một lá thư và số tiền lão tích cóp để lại ủng hộ làng Hạ xây dựng lớp mẫu giáo. Lão ấy nghèo nhưng cái tâm thì thật giàu. Anh Hừng ra trông nhà, thắp hương cho lão Vận và tranh thủ kiếm cá trên sông bán thêm tiền nuôi con ăn học.
              Thằng Nam bảo:
              - Thôi bây giờ mình về nhà đã. Tối nay sẽ ra với anh Hừng và thắp hương cho lão Vận. Ngày mai chúng mình cùng đi thăm chị Nhân nhé! Mình sẽ mượn xe đạp đèo Liên, cho bé Hằng cùng đi luôn!
              Cái Liên vội nói:
              - Thế Nam không còn nhớ à?
              - Nhớ cái gì cơ chứ!
              Thằng Nam hỏi lại. Cái Liên nhắc:
              - Mai là ngày giỗ của chị Tình và cái Na. Chúng mình lên nghĩa trang liệt sĩ thắp hương cho họ. Ngày kia hẵng lên chỗ chị Nhân nhé!
             Thằng Nam giờ mới sực nhớ lại cái ngày bi thương sáu năm về trước qua bom Mỹ rơi trúng trận địa Đồi Ma. Nó gật đầu bảo cái Liên:
              - Thôi thế cũng được! Mình về qua nhà cho bố mẹ mừng sau đó lên xã xuất trình giấy nghỉ phép để chính quyền biết, không thì họ lại nghĩ là mình bỏ ngũ về nhà.
             Thằng Nam nói xong chào cái Liên và bé Hằng rẽ vào ngõ nhà mình. Cái Liên nói với theo:
             - Chủ tịch xã bây giờ là ông Vũ Sinh, trưởng công an xã ngày xưa. Phó chủ tịch xã là cái Hiên cùng trung đội dân quân trực chiến với chúng mình thời còn trận địa phòng không trên Đồi Ma đấy…
              Buổi sáng hôm sau đúng hẹn, thằng Nam tìm cái Liên để cùng lên nghĩa trang liệt sĩ xã Hòa Sơn. Căn nhà nhỏ của hai mẹ con Liên ở một góc vườn, trong khuôn viên mấy sào thổ cư của bố mẹ đẻ. Bé Hằng được mẹ xin cô giáo lớp mẫu giáo cho nghỉ một buổi. Thằng Nam, cái Liên và bé Hằng cùng nhau đi bộ lên nghĩa trang liệt sĩ xã. Trông ba người họ giống như một gia đình.
             Nghĩa trang liệt sĩ xã Hòa Sơn gần khu nghĩa địa làng Hạ.  Khi thằng Nam và hai mẹ con Liên đến nơi thì thấy một người mặc quân phục đang lúi húi nhổ cỏ bên mộ chị Tình. Mùi hương trầm thoảng thơm ngát. Nghe tiếng động, người mặc quân phục ngẩng đầu nhìn. Cái Liên bật kêu lên:
             - Anh Thức! Anh cũng về thăm chị Tình à?
             - Chào cô Liên và cậu…
             Cái Liên vội đỡ lời anh Thức:
             - Đây là anh Nam, cũng là dân quân làng Hạ ngày xưa đấy!
             - A… nhớ ra rồi. Tại cậu mặc quân phục trông khác quá, mình không nhận ra ngay!
             Anh Thức nhớ ngày chị Tình hy sinh nên về thắp hương cho chị. Anh Thức cùng thằng Nam và cái Liên bày hoa quả trên mộ chị Tình và mộ cái Na. Họ thắp hương cắm lên mộ của hai người và các mộ liệt sĩ xung quanh. Đã gần trưa. Có tiếng còi xe con giục phía dưới chân đồi, anh Thức chào mọi người để trở về đơn vị. Anh Thức đi rồi cái Liên bảo thằng Nam:
             - Chúng mình sang bên kia thắp cho lão Vận một nén hương nhé!
             Ba người dắt nhau sang khu nghĩa địa nhân dân. Họ cùng đứng lặng hồi lâu trước một nấm mộ nhỏ bé lấp khuất dưới một lớp cỏ hoang dại um tùm…

                    (hết)                                                                     Hà Nội, 11-2014